CHỮ KÝ SỐ NỘI PHÁT TRIỂN TRONG BĂN KHOĂN

[Hotrothue.org] Dịch vụ chữ ký số đã được cung cấp ra thị trường nhưng về phương thức sử dụng và mức độ đảm bảo vẫn còn nhiều băn khoăn đối với cơ quan chức năm lẫn nhiều doanh nghiệp có nhu cầu và tiềm năng sử dụng lớn.

Chữ ký nội hay chữ ký ngoại?

Tính đến nay đã có chín doanh nghiệp được cấp giấy phép về cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số trong nước và tám doanh nghiệp trong số đó đã chính thức hoạt động. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay đều sử dụng một loại chữ ký số duy nhất của nhà cung cấp quốc tế trong các giao dịch điện tử để thống nhất trong khâu tổ chức, điều hành trên toàn cầu.

Chữ Ký số nội hay ngoại

Chữ Ký số nội hay ngoại

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Thương mại Điện tử – Bộ Công Thương, khuyến nghị rằng các ngành chức năng nên cấp giấy phép cho các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số nước ngoài. Một trong những lý do ông Linh viện dẫn là các nhà cung cấp dịch vụ trong nước chưa thể cung cấp dịch vụ chữ ký số codesigning (chứng thực phần mềm) hay SSL (sử dụng cho việc chứng thực trang web) như các doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, nếu thị trường thiếu vắng các nhà cung cấp nước ngoài thì khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ kể trên, các doanh nghiệp khách hàng sẽ gặp khó khăn.

Hiện Intel Việt Nam được xem là trường hợp ngoại lệ khi được cho phép sử dụng chữ ký số VeriSign của hãng Symantec (Mỹ) trong các giao dịch hải quan điện tử. Một trong những lý do của sự ưu đãi này là Intel Việt Nam là doanh nghiệp nước ngoài có vốn đầu tư lớn vào Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ.

Ông Nguyễn Trần Hiệu, Phó cục trưởng Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan – Tổng cục Hải quan, cho rằng để tạo điều kiện thuận lợi cũng như tính công bằng trong môi trường đầu tư, Việt Nam cần chấp nhận nhiều loại chữ ký số quốc tế chứ không chỉ riêng trường hợp của Intel với chữ ký số VeriSign.

Giới chuyên gia công nghệ cũng cho biết nhiều tập đoàn đa quốc gia khác có văn phòng, công ty, nhà máy ở Việt Nam cũng bày tỏ nguyện vọng được ưu đãi tương tự như Intel.

Doanh nghiệp Việt vẫn còn nhiều nỗi băn khoăn với nhà cung cấp chữ ký số nội

Đặc biệt đó là ngân hàng, chứng khoán. Đây là nhóm khách hàng đầu mối với mức độ và tần suất thực hiện giao dịch được tính theo ngày và theo giờ, trong khi số lượng các công ty chứng khoán, ngân hàng là rất lớn, đặc biệt là ngân hàng với hệ thống các chi nhánh tỏa rộng khắp cả nước. Đại diện nhiều ngân hàng, công ty chứng khoán cùng chia sẻ, băn khoăn lớn nhất mà doanh nghiệp vẫn còn “lưỡng lự”, hạn chế sử dụng chữ ký số là lo ngại các yếu tố bí mật, xác thực, nhất quán và không chối bỏ cho các  giao dịch điện tử, trong đó yếu tố xác thực trong chữ ký số liệu có được bảo đảm hay không? Hoặc khi có tranh chấp giữa các chữ ký số về mặt pháp lý thì giải quyết như thế nào? Bởi thực tế, quy trình và thủ tục đăng ký, sử dụng chữ ký số khá đơn giản. Các đơn vị có nhu cầu chỉ cần đăng ký với nhà cung cấp dịch vụ, điền vào mẫu và cung cấp các giấy tờ như bản sao đăng ký kinh doanh (với doanh nghiệp) hoặc chứng minh thư nhân dân (với cá nhân). Sau khi đăng ký, nhà cung cấp sẽ cấp cho chứng thư số và khóa bí mật để tạo chữ ký số, được lưu trong thiết bị ký số chuyên dụng, ví dụ như USB Token hoặc Smartcard, thế là có thể sử dụng được.

Theo các chuyên gia, bản thân chữ ký số có đặc điểm là không thể giả mạo, chứng thực nguồn gốc xuất xứ, các quốc gia phát triển cũng đã sử dụng chứng thực số như một bằng chứng pháp lý từ rất sớm. Hơn nữa, các doanh nghiệp khi cung cấp dịch vụ chữ ký số cũng đều có những cam kết sẽ chịu trách nhiệm về tính chất xác thực, bí mật và mức độ nhất quán về chữ ký số đối với các đơn vị, cá nhân sử dụng dịch vụ.

Tuy nhiên, để có thể triển khai ứng dụng rộng rãi thì trước mắt các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng chữ ký số cần xác định chiến lược ứng dụng tổng thể, chia thành các giai đoạn, xác định rõ phạm vi ứng dụng, quy mô triển khai, ngân sách đầu tư và các chiến lược cho ứng dụng chữ ký số.

Ngoài ra, do các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ, vấn đề về pháp lý, kinh nghiệm triển khai là rất quan trọng, nên ban đầu, doanh nghiệp ứng dụng có thể triển khai thí điểm ở quy mô nhỏ để rút kinh nghiệm, sau đó mới tiến tới triển khai trên quy mô rộng.

Quy định chưa theo kịp nhu cầu thực tế

Câu chuyện cấp giấy phép cho các nhà cung ứng dịch vụ chữ ký số quốc tế ở thị trường Việt Nam thực sự không phải là một vấn đề đơn giản, bởi nó đặt ra khá nhiều việc cho các cơ quan chức năng trong công tác nghiên cứu, điều chỉnh chính sách quản lý trong lĩnh vực này…

Theo ông Trần Hữu Linh, Nghị định 26 hướng dẫn thi hành Luật Giao dịch điện tử quy định điều kiện công nhận các nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài như sau: các quốc gia nơi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đó đăng ký hoạt động phải có ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế có quy định về công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài mà Việt Nam có tham gia. Như vậy, các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số nước ngoài đến từ Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc… không thể được công nhận chữ ký số ở Việt Nam vì các nền kinh tế này không có điều ước công nhận chữ ký số với Việt Nam.

Bên cạnh đó, các đơn vị cung cấp dịch vụ chữ ký số nước ngoài đang được sử dụng phổ biến như VeriSign, GlobalSign, GeoTrust… lại đăng ký kinh doanh ở nước ngoài nên sẽ không có khả năng đáp ứng được quy định kể trên tại Nghị định 26, và không được cấp giấy phép hoạt động ở Việt Nam. Nghị định 26 chưa đặt các nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số nước ngoài vào phạm vi điều chỉnh, trong khi rất nhiều cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp ở Việt Nam đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ chữ ký số quốc tế.

Từ thực tế này, ông Linh kiến nghị các ngành chức năng cần xem xét việc xây dựng một quy định mới phù hợp với nhu cầu thực tế về việc sử dụng chữ ký số ở trong nước. Quy định mới cần tính đến yếu tố thành lập và hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế để có các sự điều chỉnh hợp lý.

-Hotrothue.org-